Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

"Trông Vời Chiến Hạm Ta Đâu?"

 http://haiquancuulong.com/?mingleforumaction=viewtopic...
​"TRÔNG VỜI CHIẾN HẠM TA ĐÂU" ? >HQ là 1 trong những Binh chủng hùng mạnh của Quân lực VNCH, với hơn 4 vạn SQ và Đoàn viên, hàng trăm chiến hạm, chiến đỉnh và chiến thuyền. Từng sát cánh với các Quân, Binh chủng VNCH anh dũng chiến đấu quân xâm lăng Hán nô VC, bảo vệ miền Nam VN suốt 19 năm cho đến 1 ngày "lực bất tòng tâm" nên tự giải tán ngoài khơi vịnh Subic, Philippines năm 1975. Bài viết nầy chỉ để ghi nhận vài cảm nghĩ về 1 một đơn vị nhỏ của HQ mà người viết từng được hân hạnh phuc vụ từ 1967 đến 1972 là : "Hải Đội 1 Duyên Phòng". > An Nam ta từ thời Trịnh, Nguyễn phân tranh cho đến nay chưa kiến trúc được 1 chiến hạm tốt. Các ch/h mà HQ dùng trong chiến tranh tự vệ chống Việt Cọng, do Pháp để lại một số, sau khi rút khỏi VN năm 1954, số còn lại do Mỹ cho mượn và gần cuối tháng 4 năm 1975, Mỹ đã phái 1 Adm. đến gặp Đ/Tá Nguyễn Xuân Sơn (K4),Tư lệnh Hạm Đội để đòi lại (theo qui ước viện trợ quân sự giữa VN và Mỹ, nếu chiến hạm nào VN không xử dụng, thì phải trả lại cho Mỹ). Hầu hết các ch/h nầy, HQVN đã trả lại cho HQ Mỹ lúc 12:01 PM ngày 07 tháng 5 năm 1975, ngoài khơi vịnh Subic, Philippines. Trong thời gian từ 1954-71, hải phận VNCH được "Hải đội 1 Duyên phòng", là đơn vị nòng cốt bảo vệ.Tổng số ch/h của Hải đội 1 gồm 37 chiếc : 3 Trục lôi đỉnh MSC (HQ-114, 115 và 116), 20 Tuần duyên hạm PGM (HQ-600, 601 ... HQ-619), 6 Hộ tống hạm PC, (HQ-01, 02 ...HQ-06) và 8 Hộ tống hạm PCE ( HQ-07, 08 ... HQ- 14). Hải Đội 1 DP còn có 7 Trợ Chiến Hạm (LSSL) mang số HQ-225, 226 ...HQ-231 và 5 Giang Pháo Hạm (LSIL) mang số HQ-327, 328 ... HQ-331, nhưng các ch/h nầy chỉ xử dụng để tuần tiểu, hộ tống Thương thuyền và tham dự các cuộc "hành quân thủy bộ" trên các sông ngòi miền Nam. Bờ biển VNCH từ ranh giới Cao Mên đến Vỹ tuyến 17, bao gồm các hải đảo dài cả 1,000 Hải lý (chừng 1,800 Km). Hàng ngày hơn 30% số c/h nầy phải nghỉ bến, nhận tiếp liệu, sửa chửa, tham gia huấn luyện ... HQ-01, 02 ... HQ-05, và HQ-114, -115, -116 đươc phế thải từ năm 1968, HQ-06 được viện trợ cho HQ Cao Mên năm 1969, do đó hàng ngày chỉ có chừng 12 ch/hạm củ kỉ, lỗi thời, thực sự thi hành công tác bảo vệ hải phận VNCH. Từ 1971-75, Hải đội 1 được Mỹ cho mượn thêm 2 chiếc DER (HQ-1, HQ-4) và 7 chiếc WHEC (HQ-2, HQ-3, HQ-5, HQ-6, HQ-15, HQ-16 và HQ-17). Hầu hết các chiến hạm nầy HQ Mỹ đã phế thải sau Đệ nhị thế chiến vì lỗi thời, nên có hỏa lực kém cỏi và vận tốc chậm chạp, đã vậy khi giao cho VN, Mỹ không giao các ch/h nầy với các cơ phận và vũ khí khiển dụng tốt như HQ-1, HQ-4 các giàn phóng hỏa tiển chỉ có giàn phóng, mà không có hòa tiển, nòng súng và máy chuyền đạn các hải pháo 5"/38 (127 ly) trên mấy chiếc WHEC đã dùng quá độ, suốt các năm 1967-70 trong chiến dịch "Operation Market Time". Hạm trưởng WHEC-380 là Capt. Walter F. Barlett có nói với tôi : "Sau khi bàn giao cho VN và đổi tên, TDH Trần Nhật Duật HQ-3, sẽ có chương trình sửa chửa toàn diện các cơ phận tại Guam. Là SQ hải pháo, anh phải nhắc nhở Capt. Nguyen Tam (K5), thay thế nòng súng 5"/38 và máy chuyền đạn, vì súng nầy đã tác xạ hơn mấy trăm lần rồi". Sau 4 tuần ch/h về VN, tôi được thuyên chuyển qua HQ-472, nên không biết nòng súng và máy chuyền đạn có được thay thế?. Chiến hạm tốt là ch/hạm phải có vũ khí tối tân, vận tốc cao, và nhất là 1 thủy thủ đoàn ưu tú và Hạm trưởng phải là SQ có tài đức, tuyệt đối không buôn lậu, bán dầu, đổi dầu, lính ma, lính kiễng ... (Thời gian nay đã phôi pha, xóa mờ hết ký ức về HQ, nhưng mỗi lần nhớ lại vài kỷ niệm vui buồn đời hải hồ, tôi luôn luôn ngưỡng mộ, tâm phục khẩu phục các vị HT tài đức, liêm khiết và "reglo", mà tôi từng được phục vụ dưới quyền như : Đặng Trần Du, Ph.D. (K4), Hoàng Cơ Minh (K5) và Trương Hữu Quýnh (K11) và các vị HT tài hoa, trẻ trung năng động như : Trần Đình Trụ (K8), Lê Văn Thự (K10), Phạm Trọng Quỳnh (K11), Vũ Hữu San (K11), Hoàng Đình Báu (K11), Nguyễn An (K13) và Bùi Tiến Hoàn (K13) ... mà tôi từng được tiếp cận, cộng tác qua các chương trình, kế hoạch hành quân, huấn luyện). Chiến hạm tốt là chiến hạm lúc nào cũng phải đặt trong tình trạng sẵn sàng tác chiến, ngoài 2 máy chánh, 2 máy điện khiển dụng tốt, SQ và đoàn viên phải được huấn luyện hàng ngày về các nhiệm sở quan trọng như tác chiến, hải hành, vận chuyển, phòng tai ... Đoàn viên trên ch/hạm cần phải có sức khỏe thật tốt mới chịu đựng được công việc nặng nhọc, sóng gió và nỗi buồn xa vắng vợ con, người tình. Cho nên vấn đề ẩm thực rất quan trọng đối với người thủy thủ. So sánh khẩu phần thủy thủ VN với thủy thủ Mỹ trên chiếc WHEC-380, tôi thấy sự cách biệt về phẩm và lượng quá sức tưởng tượng! (Cuối tháng 12, 1971, khi TDH Trần Nhật Duật (HQ-3) cặp cầu Cam Ranh nghỉ bến, HP là Tr/Tá Trần Đình Trụ (K8), cho mời tôi (cựu LĐT Liên đoàn khóa sinh TTHL/HQ/CR) dùng cơm chiều trên ch/h. Tôi nhận ra các món ăn rất quen thuộc : T-bond steaks, cod fillets, soup măng cua, bánh ngọt, ice cream ... thực phẩm mà Tằu WHEC-380 nhận t/tế cho th/thủ đoàn chừng 110 người sau khi hoàn tất sửa chửa ở Guam, để dùng trong 1 tháng, mà nay vẫn còn, sau gần cả năm). Trong thời gian phục vụ trên các ch/hạm từ 1967 đến 1971 (HQ-602, HQ-613, HQ-226, WHEC-380, HQ-472), và Trường Chiến Hạm CR (1972-74), tôi từng có dịp hải hành khắp 4 Vùng duyên hải, các hải đảo xa xôi như Trường Sa, Côn sơn, Phú quốc, Cù lao Thu, Cù lao Ré ..., ghé thăm hầu hết các hải cảng trong vùng Southeast Asian Seas như : Cam Ranh (VN), Hồng Kông, Cao Shung (Đài Loan), Bang Kok (Thailand), Singapore và Subic bay (Philippines) những 4 lần, thế mà rất it khi tôi găp 1 ch/h VN, còn ch/h Mỹ thì vô số kể, đôi khi ch/h Mỹ vận chuyển với tư thế ngăn chận, và còn hỏi ch/h tôi những câu thật vô lý như : Cô từ đâu đến? Cô đang làm gì ở đây? Cô đang đi về đâu? ngay cả trong hải phận VNCH. Khi ch/h tôi có việc cần vào Chu Lai hay Cam Ranh thì HQ Mỹ cho những khinh tốc đỉnh vận chuyển với tư thế ngăn chặn, đe dọa, làm như VN ta đã bi chúng đô hộ! Dưới triều đại vua Tự Đức (1847-1883), quân Pháp chỉ dăm, ba ch/hạm và trên dưới 3000 quân mà chúng đã xâm chiếm An Nam ta 1 cách dễ dàng (chiếm Đà Nẳng năm 1858, chiếm Sài Gòn 1862, chiếm kinh đô Huế 1885). Cũng dưới triều đại nầy, giặc dã và hải tặc cướp phá khắp nơi, các thương thuyền trên hải trình từ Nam ra Bắc và ngược lại, thường bị hải tặc cướp. Vua Tự Đức phái 1 Tướng lãnh đi tuần tra trên hải trình Nam Bắc (tôi đã quên tên vị Tướng nầy nhưng nội dung bảng điều trần của ngài thì vẫn còn nhớ, dù đã đọc từ năm 1962, trong khi làm việc cho thư viện trường Văn khoa Huế qua chương trình "work scholarship"), Vị Tướng nầy đã viết 1 bảng điều trần cho vua Tự Đức về sự yếu kém, phôi thai của HQ ta thời đó, và đề nghị vua TĐ khẩn cấp canh tân quân đội, nhất là HQ để theo kịp các nước trên thế giới. Tiếc thay vua TĐ và đám quan lại không thức thời, chỉ ham chuộng hư văn, thi phú ("Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán. Thi đáo Tùng, Tuy, thất thịnh Đường"), mà không lo gì tới việc quốc gia đại sự. Hai câu thơ kết thúc bảng điều trần của vị Tướng tuần tra hải phận VN : "Trông vời chiến hạm ta đâu? Đèn chài le lói, thuyền câu một vài", đã làm tôi cảm nhận một nỗi buồn mênh mang và cô đơn vô hạn, trên các vùng biển vắng tanh của VNCH. (Dương Cưu 2 Nguyễn Tấn Kiện, cựu Hiệu trưởng Trường CH Cam Ranh 1972-1974).
Reply Reply to All Forward More

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét